Nước lợ có thể xem sự pha trộn của nước biển và nước mặnDù có thể dùng trong việc nuôi tôm, cá nhưng đa phần nước lợ không phù hợp cho các loài động thực vật phát triển nên cần được quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động vị tư lợi mà tạo ra các vùng nước lợ gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Cá bớp có tên khoa học là Rachycentron canadumCá có hình dáng thuôn dài, phần đầu to, hàm răng sắc nhọn, da và mỡ dày, vảy nhỏ, vây cá lớn và dài từ phần lưng đến đuôi cá. Ở Việt Nam, cá bớp dễ thấy các nơi các bãi bùn và cát thuộc vùng triều, ăn tảo silic và các loài phù du khác để sinh sống.
Cá chẽm hay cá vược có tên khoa học là Lates calcarifeLoài này thích nghi cà vùng biển và nước ngọt, tùy vào môi trường sống thì chúng có đặc điểm khác nhau. Ở môi trường biển, cá chẽm ở phần lưng có màu nâu, bụng và mặt bên có màu bạc. Còn ở nước ngọt, vùng bụng và mặt bên cá có màu nâu vàng.
Cá mú hay còn gọi là cá SongVề kích thước thì cá mú dài khoảng 10 - 270cm, thân trơn to chắc, miệng to, thuôn dài về phía đuôi, mình dẹp, vây lưng hình chữ V và có từ 7- 12 gai. Hàm răng sắc nhọn, hàm dưới hơi nhô dài ra phía trước.Đây là loài cá có nhiều màu sắc, hình dạng và nhiều dòng khác nhau, đặc biệt đây là loài cá ăn tạp và nếu đói chúng có thể “xé da mặt” tấn công và ăn thịt nhau.
Cá Nâu là loài cá lành tínhThân cá dẹp bên, lưng hình vòm hơi cao, nhìn ngang khá giống hình tròn. Miệng và đầu cá nhỏ, hàm có răng mịn, mắt cá lớn vừa phải. Phần đầu thường có một đường thẳng, có màu xanh oliu là cá nâu cái, còn phần đầu gấp khúc có màu xám đen là cá nâu đực, đây là dấu hiệu xác định cá đực cái dễ thấy nhất.
Cá NâuTuy nhiên, cá nâu lại có độc ở phần gai nhọn ở vây lưng và dưới bụng, vì vậy khi sơ chế cá nâu bạn nên cẩn thận, tốt nhất mang bao tay khi làm sạch cá.
Cá Dìa là loài cá kiếm mồi vào ban đêm, ăn tạp và sống bầy đàn, di cưThân cá dìa giống hình bầu dục dẹp hai bên, mắt to tròn, có chiều dài trung bình 25 - 30 cm, trong lượng 1 - 2 kg. Thân cá trơn nhẵn, màu hơi đen hoặc nâu xám, phần bụng có màu bạc đốm hoa vàng, đầu và miệng ngắn, chất thịt ngọt, thơm ngon.
Cá đối thuộc bộ MugiliformesCá đối có nhiều xương và vảy nhưng thịt cá thơm béo, giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt trứng cá đối rất ngon nên được nhiều người ưa thích.
Cá bè là loài có giá trị kinh tế và được khai thác nhiều ở các vùng biểnThân hình cá bè dài dẹp, có màu trắng bạc dọc từ lưng đến bên hông cá, cân nặng trung bình 0.8 - 2kg. Loài này sống theo bầy đàn, ở Việt Nam thường thấy cá xuất hiện ở các vùng nước gần bờ, cửa sông, vịnh nhỏ, gần rạn và mũi biển ngoài khơi.
Cá chim vây vàng có tên khoa học là Trachinotus blochiiThân cá hình dẹt, màu ánh bạc và vây vàng. Trọng lượng trung bình đạt khoảng 600 - 800g, có giá trị kinh tế cao. Chất lượng thịt ngon, mềm, có giá thành tương đối cao và thường được xuất khẩu
Cá măng có tên tiếng anh là MilkfishTại Việt Nam, cá măng xuất hiện nhiều ở ven biển miền Trung từ Nha Trang, Khánh Hòa đến Phan Thiết, Bình Thuận nhưng nổi tiếng nhất là cá măng Sông Đà. Cá có thân hình dài và dẹt hai bên, đầu to, mõm tù và tròn.Vảy cá tròn, có một vây lưng, vây ngực thấp, vây bụng nhỏ, vây đuôi rộng. Miệng cá nhỏ, không có răng và râu, lưng cá có màu xanh lục, phần bụng và lườn thì có màu trắng, mép vây đuôi và vây lưng hậu môn đều có viền đen.
Cá măng có tốc độ sinh trưởng khá nhanhNgoài ra, trọng lượng cá măng trung bình từ 5 - 12 kg và chiều dài trung bình 0.7m - 1.5 m, cá đực có thể dài đến 1.8 m nặng 14 kg. Cá măng có tốc độ sinh trưởng khá nhanh cùng chất thịt rất thơm ngon, ngọt, dai và đỏ, chứa nhiều dinh dưỡng, nên cá ngoài làm thực phẩm thường ngày còn làm quà biếu cho các dịp lễ, tết.Bên trên là các loài cá sống ở các vùng nước lợ phổ biến mà các chị em nội trợ nên biết để có thể phân biệt, cũng như biết tên chúng để mua cho chính xác. Hơn nữa, mong thông tin trên giúp các bạn đọc giả hiểu thêm về những loài cá sống trong nước lợ như thêm một kiến thức mới.
Link nội dung: http://thoitiet247.edu.vn/ca-nuoc-lo-a32373.html